Đặt vấn đề
Vài trăm năm gần đây, Khoa học Tự nhiên phát triển vượt bậc. Làm thay đổi cả nhân loại. Nhiều điều từng được xem là phép màu nay trở thành chuyện thường ngày.
Máy bay giúp con người di chuyển trong không gian, tới bất kỳ chỗ nào muốn. Internet giúp chúng ta “di chuyển” trong thời gian, làm hiểu biết về quá khứ và mường tượng tới tương lai.
Khoa học Xã hội cũng trải qua hàng ngàn năm, nhưng “dường như đang đi chậm hơn”?
Trong lĩnh vực nghệ thuật – hội họa, điêu khắc, âm nhạc – những tác phẩm hàng trăm nước trước, của Leonardo da Vinci, Van Gogh, Michelangelo, Mozart, Beethoven, Chopin… vẫn chiếm vị trí sâu đậm trong tâm trí con người.
Dẫn tới. Cuộc sống vật chất thay đổi nhanh chóng. Con người đi nhanh hơn, nhìn xa hơn, sống tiện nghi hơn. Nhưng, những vấn về tinh thần có lẽ vẫn như trước. Cảm giác niềm vui, sự bình an nội tâm, nỗi đau, thất vọng, sợ hãi, cô đơn… dường như vẫn giống nhau, từ ngàn năm trước.
Có sự “ghen tị” nhất định. Vì sao những phương pháp của Khoa học cơ bản tự nhiên không áp dụng sâu rộng được cho Khoa học xã hội?
Tại sao?
Khoa học Tự nhiên nghiên cứu qui luật khách quan của tự nhiên. Tạo ra những kiến thức: là mới so với nhân loại (lúc đó), nhưng chính nó đã tồn tại từ trước. Có nghĩa là. Những hiểu biết nhận được luôn khách quan, độc lập. Không phụ thuộc vào màu da, quê hương, chủng tộc, tôn giáo, lứa tuổi,.. của con người.
Khoa học Xã hội có lẽ không như vậy. Phải chăng, Kiến thức ở đây không có tính “trung lập”?
Hình như, trong Khoa học Xã hội, kiến thức không chỉ là nội dung được hiểu, mà còn thuộc về người hiểu nó, là một phần của chính họ. Mỗi người có cách hiểu của riêng mình. Không giống ai khác. Tức không thể “trung tính”.
Dẫn tới. Truyền thống, lịch sử, trải nghiệm, định kiến cá nhân – không phải là chướng ngại vật, mà lại là điều kiện của hiểu biết.
Mọi phương pháp trong nghiên cứu Khoa học Tự nhiên thường có tính chất: Ta và Đối tượng luôn có khoảng cách.
Khoa học Xã hội không áp dụng phương pháp này hoàn hảo được. Hiểu biết ở đây không chỉ là quá trình một chiều: tiếp nhận nó và “căng óc” để hiểu. Mà là sự kết hợp giữa người đọc với lời văn của người viết, trực tiếp hay thông qua người giải thích nó. Đó là quá trình sống, có đối thoại, tương tác hai chiều, chứ không phải là kỹ thuật đơn thuần.

Ví dụ minh hoạ.
Từ trò chơi dẫn tới hiểu biết.
Ngồi cả ngày ngắm sóng và ánh sáng trên biển. Đó là quá trình chơi diễn ra không có mục đích. Nhưng lại là cấu trúc tạo nên quan hệ giữa con người với thế giới bên ngoài.

Khi thấy gió lên, tung diều thả lên bầu trời và chiêm ngưỡng. Cũng không mục đích. Nhiều khi không chủ động. Mà việc mình chơi diều trên cũng chính là nó đang chơi với mình. Mình bị cuốn chạy theo qui luật của trò chơi, cũng có thể – đây là nghệ thuật.

Hay bên âm nhạc. Nhiều khi mình tưởng là đang chơi đàn, mà ngược lại, điệu nhạc trên cuốn mình vào, không cưỡng lại được. Không hề để tâm tới trình độ mình ra sao…

Thông qua cảm nhận từ trò chơi dẫn tới hiểu biết, sẽ bộc lộ chân lý. Cả hai hòa vào làm một: cuộc chơi và người chơi.
Chân lý, nhân sinh quan thông qua các môn học nghệ thuật, trò chơi,.. sẽ ngấm hơn nhiều khi so sánh với những bài giảng giáo lý đúng đắn, nhưng khô khan, nhiều khi vô hồn.
Từ đọc sách dẫn đến hiểu biết.
Mỗi cuốn sách là một thể sống. Là một vũ trụ riêng biệt. Người đọc không hoàn toàn kiếm soát ý nghĩa của quá trình đó. Khi say sưa với cuốn sách, ta nghĩ mình đọc sách, nhưng thực ra – sách đang “đọc” ta.

Trong khoa học xã hội – phải dấn ấn mình vào thì mới thẩm thấu. Chứ không thể đứng quan sát bên ngoài vào – như bên khoa học tự nhiên.
…
Nhưng ý tưởng trên đây được ghi chép lại, có bổ sung và “cá nhân hóa” sau lần nghe Nhà văn Bùi Văn Nam Sơn giới thiệu về ý nghĩa triết học của tác phẩm: Truth and Method (Chân lý và Phương pháp) của Triết gia người Đức Hans-Georg Gadamer (1900–2002).

Vậy, bản chất sự khác biệt là gì?
Sự diễn tả “lùng bùng” trên sẽ không thể thỏa mãn những người trong giới Khoa học Xã Hội. Chắc mới chỉ “men men” xa bên ngoài, hoặc – cùng lắm – chỉ một mặt cắt nào đó…
Với người bên Khoa học Tự nhiên, những mô tả trên cũng mơ hồ, không rõ nét…
Vấn đề ở đây là gì?
- Người trình bày không nắm rõ vấn đề, hoặc cách trình bày không thuyết phục?
- Bản chất vấn đề không chỉ phức tạp, mà là một hình thái mới – và đòi hỏi cách nhìn mới về nó.
Phần nhiều, cách suy nghĩ thường từ đơn giản —> phức tạp, từ cụ thể —> trừu tượng. Điều này làm dễ dàng hiểu biết sự việc và quá trình nhận thức diễn ra tự nhiên.
Tồn tại tư duy theo chiều ngược lại: từ tổng thể —> chi tiết, từ mơ hồ —> rõ ràng. Đây là hướng tư duy khó mà trình bày đơn giản, rành mạch. Chỉ có thể mô phỏng chứ không thể khúc chiết được. Đưa ra những khái niệm chung chung, mô hình mù mờ, trừu tượng, phức tạp được tổng hợp lại rồi đi tới ví dụ cụ thể để mình họa nó.
Chiều tư duy này thường tự ngấm, khó dạy bài bản được. (Đọc thêm Hai hình thái tư duy)
Hai thế giới, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội khác (xa) nhau. Để hiểu – thường cần những cách tư duy khác nhau.
Mô phỏng theo hình tượng Toán học: Muốn hình chữ nhật trở nên cân đối – thì phải tăng (đồng bộ) cả chiều dài và chiều rộng. Khi đó diện tích mới tối ưu.
Một buổi sáng ngắm mặt trời trên biển, nhiều người cùng thấy đẹp — nhưng cái đẹp mỗi người cảm nhận lại khác nhau, mang tính riêng tư.
Âm nhạc cũng vậy. Mỗi cá nhân thường đồng điệu với một vài thể loại nhất định, rồi từ đó hình thành khái niệm riêng về cái đẹp trong âm nhạc.
Trong lĩnh vực tình cảm hay con người, gần như ai sinh ra và tồn tại trên thế giới này cũng đều có thể là “idol” của một số ít người nào đó, trong khi phần đông còn lại — nói nhẹ — chỉ khá thờ ơ.
Riêng với Khoa học Tự nhiên, các kết quả thường rõ ràng hơn, có tính khách quan cao hơn và được cộng đồng chấp nhận mang tính phổ quát hơn nhiều.
….
Nhưng để có thể hiểu rõ – cần tích hợp cả hai cách tư duy, dạng như “sống ở đường biên – giữa hai thế giới” nối tiếp nhau. Đường biên này chỉ là mường tượng riêng của từng cá nhân, tại mỗi thời điểm lại thấy đổi, không thể mô tả khúc chiết được.
Tức, mỗi người – khi muốn hiểu biết về thế giới khác (mình) – phải thoát khỏi cái lồng kính của phương pháp tư duy đã gắn chặt trong đầu.

Để. Nhận thấy rằng, cái mới phải bổ sung, tích hợp, chứ không thay thế cái đang có.
…
Nhưng. Giờ đây, Trí tuệ nhân tạo AI xuất hiện và như một cơn lốc xoáy, chạy ào vào cuộc sống.
Nó đang làm gì? Và ảnh hưởng ra sao tới nhận thức về Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội?

…
Ý tưởng chính ở đây:
Chất lượng của AI trong Khoa học Tự nhiên sẽ tăng lên đáng kể, dựa theo Định lý Xấp xỉ phổ quát (Universal Approximation Theorem) của George Cybenko công bố năm 1989.
Nếu có đủ neuron (dữ liệu một chiều), có thể xấp xỉ một đường cong bất kỳ, với độ chính xác tùy ý.
Và phần lớn kiến thức của Khoa học tự nhiên là sắp xếp thứ tự và định nghĩa chặt chẽ được. Vậy nên, AI sẽ còn nhiều bước tiến xa hơn nữa…
Trong khi đó, Khoa học xã hội mang nhiều tính chất mô tả, cảm nhận riêng tư… Có lẽ, AI sẽ phải dừng ở đâu đó?
…
Vấn đề này sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong bài sau: Suy nghĩ lấy từ đâu ra? Hay nói cách khác, những ý tưởng sáng tạo hình thành như thế nào? Và AI có tới điều đó hay không?
Trả lời